Quá trình phát hiện sớm rối loạn tự kỷ tại Úc –P2

RỐI LOẠN TỰ KỶ TẠI ÚC – Phần 2

Giáo sư Margot PRIOR

Khoa Tâm Lý, Đại học Melbourne, Úc

Một vài trẻ đến những trung tâm ban ngày dành cho các trẻ chậm phát triển trí tuệ, hoặc những trường đặc biệt cho những trẻ có khả năng trí tuệ thấp hơn mức bình thường. Tôi cũng nhớ , những giáo sư đến thăm những trường đặc biệt lúc đấy đã khám phá một số trẻ (không được chẩn đoán) được nhận ra như rối loạn tự kỷ. Vì vậy, dần dần, một số trung tâm ban ngày và những trường cho trẻ tự kỷ được thành lập trong khuôn viên nhà thờ hoặc những nơi khác, nơi mà trẻ có thể tụ tập thành từng nhóm để học cách chơi và tác động qua lại với những trẻ tự kỷ khác và với những người trông coi chúng. Một số giáo viên có sở thích đặc biệt với trẻ tự kỷ đến làm việc với chúng. Những trung tâm cũng nâng đỡ cha mẹ.

Tuy nhiên, vào những thập niên 70, hầu hết những đứa trẻ vẫn còn được tìm thấy ở những trung tâm dành cho những trẻ chậm phát triển tâm thần.

Cha mẹ trong các hiệp hội vận động chính phủ cho kinh phí và những dịch vụ thích hợp cho những trẻ “đặc biệt” và cho việc đánh giá và chẩn đoán chính xác.Vì tỉ lệ mắc chứng tự kỷ có vẻ thấp vì sự thờ ơ của cộng đồng và ngành y về tự kỷ.Quả là một nhiệm vụ đầy thử thách.

Những nhà tâm lý như tôi đang có một sự thích thú và làm công việc nghiên cứu trẻ tự kỷ để cố gắng hiểu những điều gì sai lạc trong sự phát triển và trí não của những trẻ tự kỷ vận hành như thế nào. Khuyết tật đặc biệt của chúng là gì và làm cách nào để chúng được điều trị?

Sự tiến triển được thông qua nguồn năng lượng và sự hăng hái to lớn cũng như sự lãnh đạo của một số cha mẹ có con tự kỷ, họ đã làm việc rất chăm chỉ để tìm sự hỗ trợ và các dịch vụ cho các con của họ.

Một trong những người lãnh đạo này là một bác sĩ tổng quát từ một thị trấncó đứa con trai bị tự kỷ nặng đã được chẩn đóan ở Anh. Cô ấy thành lập một trại hè hàng năm cho trẻ , cho cha mẹ và anh em của chúng (the Mansfield autistic Playschool). Mỗi mùa hè trong vòng nhiều năm , những gia đình có thể đến và sống với nhau trong hai tuần , ở đó họ có thể học rất nhiều từ những người khác về cách điều khiển con họ . Họ cũng có thể được tư vấn bởi những giáo sư có nhiều kiến thức về trẻ tự kỷ đã đến ở trại. Nhu cầu của các người anh em cũng được chú ý.

Trẻ tự kỷ có những kinh nghiệm mới như cưỡi ngựa, bơi lội , đi bộ đường dài , những trò chơi , âm nhạc và làm việc nhóm với những người giúp đỡ đặc biệt. Chúng tôi đã có rất nhiều thời gian vui vẻ cùng nhau.

Cùng một phụ huynh thành lập một trường lưu động xung quanh đất nước với một giáo viên để giúp đỡ các gia đình thường bị tách biệt và không có những dịch vụ hoặc người chuyên môn giúp đỡ .

Càng ngày càng nhiều trẻ tự kỷ và cha mẹ muốn nói ra những vấn đề của họ trong suốt những năm 1970. Những hiệp hội cha mẹ lớn lên một cách mạnh mẽ và có thể được sự hỗ trợ của chính phủ cho con của họ. Suốt đầu những năm 1980 , nhiều trường được thành lập trong tất cả các bang . Những lớp học tự kỷ đặc biệt được mở trong những trường bình thường .

Những trẻ tự kỷ trong những trường đặc biệt bắt đầu được công nhận về những nhu cầu đặc biệt của họ. Giáo viên phát triển nhiều kỹ năng trong việc quản lý , dạy trẻ và có những bước tiến dần trong việc hỗ trợ trẻ tự kỷ .

Với sự phát triển trong việc quan tâm đến nghiên cứu , can thiệp và dạy thực hành , và với nhiều thông tin đến từ những quốc gia khác , kiến thức phát triển ở Úc và nhiều người đã bắt đầu đặt những câu hỏi về tự kỷ và tham dự buổi nói chuyện của các giáo sư .

Âm ngữ trị liệu cũng bắt đầu được quan tâm hơn và cảm thấy tự tin hơn trong việc giúp đỡ những trẻ này ,góp một phần nhỏ nhưng rất quan trọng đê phát triển những dịch vụ và tư vấn cho phụ huynh . Tuy nhiên ,đó vẫn còn là việc rất khó khăn cho cha mẹ . Họ vẫn không được các bác sĩ quan tâm do thiếu kiến thức về tự kỷ . Họ vẫn còn phải tìm những con đường cho chính họ để đánh giá , chẩn đóan và hỗ trợ . Trong khi đại diện của chính phủ cũng phát triển nhiều kiến thức, nhưng vẫn còn phải đấu tranh để tìm những trung tâm và những trường cho trẻ tự kỷ có thể học và phát triển những kỹ năng.

Từ những báo cáo của Mỹ, chúng tôi phát triển sự thành thạo trong những phương pháp điều trị hành vi . Chúng tôi có hệ thống, chiến lược và hiệu quả hơn trong việc tiếp cận và để trẻ tham gia trong việc học . Chẳng hạn chúng ta bắt đầu hiểu việc phân tích chức năng của hành vi : khi nào trẻ la ? điều gì xảy ra trước khi điều này bắt đầu ? điều gì xảy ra khi trẻ la ? A→B→C của hành vi .

Nhưng đã có và còn nhiều thử thách như quản lý hành vi lặp đi lặp lại và ám ảnh (ví dụ như chồng ghế ): ứng xử với sự công kích, những hành vi tự hủy hoại.

Nên xâm nhập vào những trẻ này tới đâu để mang chúng ra khỏi thế giới của chúng, giúp đỡ cách chúng giao tiếp và cách chúng ta có thể giao tiếp thành công hơn, cách dạy chúng chơi, học cách tự giúp đỡ và những kỹ năng thích ứng …

Hiểu trí não của chúng làm việc như thế nào (Biểu đồ SL)

Cách hỗ trợ tốt nhất cho ba mẹ trong những khó khăn của họ đối với việc giáo dục trẻ, những người rất khiếm khuyết và khó khăn để điều khiển.

Tôi muốn nhấn mạnh vai trò của phụ huynh quan trọng như thế nào trong việc giáo dục và ảnh hưởng dần dần đến chính phủ về những nhu cầu đặc biệt của trẻ tự kỷ và sự thật là họ đã đúng khi dành sự quan tâm và giáo dục cho tất cả các trẻ . Cha mẹ ( với sự ủng hộ của các chuyên gia ) đã kể những câu chuyện của họ, viết thư và nói với những thành viên và toàn thể chính phủ về những nhu cầu đặc biệt của họ . Đó là một cuộc chiến lâu dài nhưng đã thu được rất nhiều thành công.

Trong suốt những năm hiệp hội phụ huynh thành công, họ trở nên mạnh và chuyên nghiệp trong các hoạt động của họ. Họ thành lập những phương thức nghỉ ngơi chăm sóc. Họ làm việc với chính phủ để tạo ra các nơi để học trong các trung tâm, lớp mẫu giáo và các trường học. Và dĩ nhiên, khi phụ huynh già đi, họ thúc đẩy sự phát triển các dịch vụ cho trẻ vị thành niên và người trưởng thành.