Rối nhiễu tâm trí ở trẻ em và biện pháp phòng chống P1

Rối nhiễu tâm trí ở trẻ em và biện pháp phòng chống

BS. Nguyễn Trọng An

Cục Bảo vệ Chăm sóc Trẻ Em Việt Nam

Bộ Lao động Thương Binh Xã hội

Tóm tắt

Rối nhiễu tâm trí (RNTT) ở trẻ em là một vấn đề phổ biến ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ, nhưng ở Viêt Nam đã bị lãng quên trong thời gian qua. RNTT ở trẻ em xuất hiện rất sớm và biểu hiện ở dưới nhiều dạng khác nhau. Ở độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo có ba dạng RNTT phổ biến là rối nhiễu bám mẹ, tự kỷ, và rối nhiễu hành vi. Ở độ tuổi lớn hơn, bên cạnh rối nhiễu hành vi xuất hiện rối nhiễu tình cảm lo âu và có thêm lạm dụng chất gây nghiện. Ở nhiều nước, RNTT là một trong những nguyên nhân gây bỏ học, vi phạm pháp luật, tự thương và tự tử ở trẻ em và vị thành niên.

Ở Việt Nam tỷ lệ RNTT trẻ em cũng tương đương như các nước trong khu vực, dao động trong khoảng từ 8-20%.

Việc phòng chống rối nhiễu tâm trí ở trẻ em được bắt đầu bằng một mục tiêu rất cụ thể, là làm sao cho các bậc cha mẹ, thầy cô giáo và các nhà hoạch định chính sách phải nghĩ đến RNTT ở trẻ em, nhận ra tầm ảnh hưởng của RNTT đến học tập và sự phát triển toàn diện của trẻ, để thực hiện phát hiện sớm can thiệp kịp thời và đúng cách. Cần thiết chương trình giáo dục sức khoẻ phải tiến hành bắt buộc về phòng chống RNTT đối với cả thầy thuốc, các nhà hoạch định chính sách, bậc cha mẹ, và những ai liên quan đến giáo dục chăm sóc trẻ em. Hệ thống y tế trường học phải được củng cố theo hướng thực hiện sàng lọc phát hiện sớm RNTT ở học sinh và phối hợp chặt chẽ với gia đình điều trị trẻ bị RNTT theo hướng dẫn của cơ sở y tế chuyên khoa. Các cơ sở y tế khám và điều trị RNTT tại cộng đồng phải được hỗ trợ khuyến khích phát triển. Điều này đặt ra yêu cầu thay đổi về chính sách y tế cho phù hợp với hiểu biết hiện tại đối với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần nói chung, và chăm sóc sức khỏe tâm trí cho trẻ em và học sinh nói riêng.

Summary

MENTAL DISORDERS WITH CHILDREN

Childhood Mental Disorders (CMD), a popular phenomenon which has serious impact to children’s health and development but it has been sunk into oblivious for years. Childhood mental disorders appear at the early age and are manifested under various forms. At the kindergarten age and preschool age, there are 3 common types of childhood mental disorders including Separation Anxiety disorder, autism, and behavior disorder. By the older age, there appears affect disorder with drug abuse beside behavior disorder. In many countries, CMD is the main cause of school dropout, juvenile delinquency, self-injure, and suicide of children.

In Vietnam, CMD percentage is also increasing in equivalence with other regional countries and fluctuates between 8 – 20%.

CMD prevention is firstly launched by a specific objective is that how to make parenthoods, teachers and policy maker think of CMD, and recognizes the scope of impact on child’s study and comprehensive development so that they can have early and precisely intervention. It is necessary that health education program must be integrated with CMD prevention used by medical practicians, policy makers, and parenthoods and child-care and education – related workers. School clinic system should be consolidated in orientation with early screening and discovering for pupils and closely cooperation with children to make an appropriate treatment for children with mental disorder under the instruction of specific clinic base. Clinics where are responsible for medical examination and treatment of CMD at community should be supported and encouraged for development. For that, it is essential to change health care policy in compatible to current common acknowledgement of mental health in general and childhood and pupils mental health care in particular.

1. Sức khỏe tâm trí:

Thuật ngữ “rối nhiễu tâm trí” (RNTT), được dùng để chỉ trạng thái lệch lạc về sức khỏe tâm trí trong một thời gian đủ dài đã vượt khỏi ngưỡng tự điều chỉnh trở về bình thường của cơ thể đòi hỏi cần có sự can thiệp chuyên môn để tránh vòng xoắn rối nhiễu nặng dần dẫn đến tổn thương khó hồi phục. Với RNTT, phạm vi đề cập đến số đông hơn, biểu hiện bệnh ở mức độ nhẹ hơn, do vậy nếu can thiệp kịp thời, đúng cách sẽ giúp người bệnh trở lại cuộc sống sinh hoạt bình thường một cách nhanh chóng. Với RNTT, việc phát hiện và điều trị hoàn toàn có thể thực hiện ở tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu. Đây chính là cơ sở để tổ chức y tế thế giới (WHO) khuyến cáo thu hẹp các bệnh viện chuyên khoa tâm thần, đẩy mạnh việc xây dựng các mô hình cộng đồng phát hiện sớm và điều trị sớm các bệnh tâm thần phổ biến như mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, lo âu, trầm cảm… đồng thời giúp cộng đồng xóa bỏ mặc cảm vốn có về bệnh tâm thần.

Với trẻ em, khái niệm rối nhiễu tâm trí ở trẻ giúp các bậc cha mẹ nhìn nhận lại khách quan hơn về những biểu hiện bất thường ở trẻ ngay từ những năm đầu đời như quấy khóc thường xuyên, biếng ăn, bám mẹ, chậm nói… hoặc biểu hiện sút giảm trong kết quả học tập ở trẻ độ tuổi học đường.

2. Rối nhiễu tâm trí có phổ biến ở trẻ em?

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã thống kê rối nhiễu tâm trí đứng hang thứ 5 trong số 10 nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật cho con người. Dự báo sẽ tăng từ 12% (1999) lên tới 20% vào năm 2020. Trẻ em, phụ nữ trong thời gian mang thai và nuôi con nhỏ là những đối tượng hay bị nhất. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng Đồng (RTCCD) năm 2003 cho thấy có đến 20% trẻ em độ tuổi lớp 2, lớp 3 bị rối nhiễu tâm trí, và cứ 5 bà mẹ nuôi con nhỏ 1 tuổi có 1 người được chẩn đoán rối nhiễu tâm trí. Các nghiên cứu khác trên thế giới đã chứng minh có sự liên quan chặt chẽ giữa rối nhiễu tâm trí ở mẹ ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần, và vận động của trẻ trong những năm đầu đời. Ở lứa tuổi học đường, rối nhiễu tâm trí là nguyên nhân chính làm giảm sút chất lượng đào tạo, tăng tỷ lệ bỏ lớp, và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng tự tử trong học sinh.

Bảng 1 so sánh tình hình rối nhiễu tâm trí ở trẻ em qua các nghiên cứu thực hiện tại một số nước trên thế giới. Số liệu cho thấy tỷ lệ trẻ em bị rối nhiễu tâm trí là phổ biến ở cả các nước có thu nhập cao và các nước có thu nhập thấp, đi từ tính trung bình cứ 5 trẻ có một trẻ bị rối nhiễu tâm trí. Một nghiên cứu khác đã ước lượng, trong số trẻ đến khám tại các cơ sở chăm sóc sức khoẻ ban đầu, số mắc rối nhiễu tâm trí chiếm từ 12% đến 29% (Giel và CS, 1981; Trích dẫn bởi WHO, 2005).

Bảng 1- Tỷ lệ rối nhiễu tâm trí ở trẻ em theo báo cáo của một số nước (WHO, 2005)